Điều trị ung thư bằng phương pháp miễn dịch trúng đích

administrator

Điều trị ung thư bằng phương pháp miễn dịch trúng đích

Kháng thể nguyên bản

Kháng thể đơn dòng khi gặp các kháng nguyên đặc hiệu có trên bề mặt các tế bào UNG THƯ sẽ gắn với các kháng nguyên này, kích hoạt hệ thống miễn dịch của cơ thể, tiêu diệt các tế bào UNG THƯ. Trastuzumab kháng Her 2/neu trong điều trị UNG THƯ vú đã đề cập ở trên cũng có tác dụng theo cơ chế này. Nhiều kháng thể đơn dòng khác đã được sử dụng như:

  • Rituximab (Rituxan, MabThera) kháng CD20, epratuzumab (Lympho Cide) kháng CD22, alemtuzumab (Campath) kháng CD52 được sử dụng trong điều trị u lymphô ác tính loại tế bào B.

– Ofatumumab (Arzerra) kháng CD20 điều trị bệnh bạch cầu lymphô mạn.

Tham khảo thêm về Thuốc Tagrix điều trị ung thư phổi

Thuốc Erlocip Điều trị ung thư phổi

Kháng thể gắn

a. Kháng thể đơn dòng kết hợp chất độc

Kháng thể đơn dòng được gắn các chất độc từ thảo mộc hoặc vi khuẩn như ricin và độc tố bạch hầu. Bằng việc gắn với kháng thể đơn dòng, các chất độc này sẽ bám theo kháng thể rồi vào trong tế bào.

Gemtuzumab ozogamicin (Mylotarg), kháng thể kháng CD33 gắn với một chất gây độc tế bào thuộc nhóm calicheamicin, dùng điều trị bệnh bạch cầu tủy cấp.

b. Kháng thể đơn dòng gắn phóng xạ

Phương pháp còn được gọi là điều trị phóng xạ miễn dịch (radioimmunotherapy). Kháng thể đơn dòng mang các đồng vị phóng xạ như I. Y90 và Cu67 tới tế bào UNG THƯ để các đồng vị phóng xạ này phát huy tác dụng xạ trị tại tế bào trong khi ít gây hại tế bào lành.

Kháng thể đơn dòng kháng CD20 gắn với Y90 (Y90 Ibritumomab tiaxetan, biệt dược Zevalin) hoặc gắn I131 (I131 Tositumomab, biệt dược Bexxar) đã được nghiên cứu áp dụng trên u lymphô ác tính tế bào B.

c. Kháng thể đơn dòng gắn men

Kháng thể sẽ đưa một men tới khối u, men này sẽ hoạt hoá một tiền chất (không độc) của thuốc thành thuốc gây độc tế bào.

Các thuốc điều trị đích khác

Bortezomib (Velcad) làm tế bào chết bằng ức chế proteasom, chỉ định cho bệnh đa u tủy xương, u lymphô.

Temsirolimus (Torisel) và everolimus (Afinitor): là các thuốc ức chế mTOR (mammalial target of rapamycin). Đây là protein có vai trò quan trọng điều hoà sự sinh trưởng, tăng sinh cũng như thời gian sống của tế bào, tổng hợp protein và phiên mã gen. Hiện các thuốc này đang được nghiên cứu trong UNG THƯ thận.

Vorinostat (Zolinza) và vomidepsin (Istodax) ức chế men histon. deacetylase dùng điều trị u lymphô T ở da.

Beyaroten (Targretin) gắn và hoạt hoá thụ thể retinoid X, điều trị u lymphô tế bào T ở da. Tretinoin (Vesanoid) gắn và hoạt hoá thụ thể acid retinoic điều trị một loại bệnh bạch cầu. Alitretinoin (Panretin) gắn cả thụ thể acid retinoic và retinoid X, dùng điều trị các tổn thương da ở bệnh sac-côm Kaposi liên quan với AIDS.

Paralatrexat (Folotvn) là thuốc kháng folat nhưng khác các thuốc hoá chất kháng folat, thuốc này tích luỹ có chọn lọc ở những tế bào bộc lộ RCF-1. Đây là protein bị bộc lộ quá mức ở một số loại tế bào UNG THƯ. Hiện thuốc được sử dụng trong một loại u lymphô tế bào T.

Flavoniridal (Alvariab): ức chế cdk (cyclin-dependent kinase), một họ các protein quan trọng trong điều hoà chu kỳ tế bào, đang được nghiên cứu trên một số UNG THƯ.

Denileukin diftitox (Ontak) gồm Interleukin-2 (IL-2) gắn với độc tố bệnh bạch hầu, IL-2 sẽ nhằm tới các thụ thể của nó có ở các tế bào UNG THƯ và gây độc cho tế bào bằng độc tố bạch hầu.

Ngoài ra, các vắc xin UNG THƯ (không phải vắc xin phòng ngừa vi rút liên quan đến UNG THƯ) và điều trị gen cũng được coi là điều trị đích bởi can thiệp vào sự phát triển của các tế bào UNG THƯ đặc hiệu.

KẾT LUẬN

Điều trị đích là tiến bộ mới trong lĩnh vực chuyên sâu của nội khoa UNG THƯ. Trong tương lai, các nhà khoa học sẽ tiếp tục cho ra đời nhiều loại mới. Tuỳ loại thuốc, theo từng chỉ định mà điều trị đích có thể sử dụng đơn độc hoặc phối hợp với các phương pháp kinh điển như phẫu thuật, xạ trị, hóa trị nhằm kéo dài thời gian sống, hạn chế tác dụng phụ, nâng cao chất lượng sống của bệnh nhân.

Tuy vậy, điều trị đích không phải không có tác dụng phụ và độc tính. Vì vậy, cần phải tìm được đích chính xác rồi mới điều trị, không được sử dụng tuỳ tiện. Người ta đưa ra khái niệm điều trị đích theo cá thể với mục đích tối ưu hoá việc điều trị cho bệnh nhân. Ví dụ: UNG THƯ vú có Her 2/neu dương tính mạnh mới sử dụng trastuzumab, UNG THƯ đại trực tràng có gen KRAS tự nhiên mới có kết quả điều trị cao khi dùng cetuximab, u lymphô phải là loại tế bào B và CD20 dương tính mới nên dùng rituximab. Có như vậy mới đạt được hiệu quả điều trị cao nhất, tránh được tác dụng phụ có hại cũng như tốn kém không cần thiết.

Tài liệu tham khảo

  1. Nguyễn Bá Đức. Hóa chất điều trị bệnh ung thư. Nhà xuất bản Y học-2003.
  2. Veronesi U, Maisonneuve P, Sacchini V, et al. Tamoxifen for breast cancer among hysterectomized women. Lancet 2002;359:1122.
  3. Cunningham D, Humblet Y, Siena S et al. Cetuximab (IMC-C225) alone or in combination with irinotecan (CPT-11) in patients with epidermal growth factor receptor (EGFR)-positive, irinotecan-refractory metastatic colorectal cancer (MCRC). Proc Am Soc Clin Oncol 2003;22:252 (abst)
  4. Baselga J. Targeting the epidermal growth factor receptor: a clinical reality. J Clin Oncol 2001;19[Suppl):41S
  5. Druker BJ, et al. Efficacy and safety of a specific inhibitor of the BCR-ABL tyrosine kinase in chronic myelogenous leukemia. N engl J Med 2001;344:1031
  6. Herbst R, et al. Dose-comparative monotherapy trials of ZD1839 in previously treated non small cell lung cancer patients. Semin Oncol 2003;30(Suppl 1):30

Tham khảo thêm bài viết:

cách làm đẹp từ chuối

Mất ngủ là dấu hiệu của bệnh gì? Cách khắc phục tình trạng mất ngủ

 

 

Đánh giá bài viết

Leave a Reply